Câu 5a.
2z+ =9 – ai
Hoặc 25i/z = -4 + 3i
Câu 5b. 2i hoặc -2i.
ĐÁP ÁN LỊCH SỬ - 2012
Câu 1. ( 3,0 điểm )
a. Nguyên nhân thắng lợi
+ Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất từ ngàn xưa. ách áp bức bóc lột tàn bạo của phát xít Nhật đã thúc đẩy nhân dân ta vùng dậy đấu tranh để đập tan xiềng xích nô lệ, giành lấy độc lập tự do. Vì vậy, khi Đảng cộng sản Đông Dương và Việt Minh giương cao ngọn cờ cứu nước thì mọi ngừời Việt Nam đã nhất tề hưởng ứng, nhất tề đứng dậy khởi nghĩa giành lấy chính quyền khi thời cơ chính muồi xuất hiện.
+ Đảng cộng sản Đông Dương đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh là người trực tiếp lãnh đạo và tổ chức Cách mạng Tháng Tám.
Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị lực lượng lâu dài, trải qua các cuộc diễn tập 1930 - 1931 và 1936 - 1939, đã động viên giác ngộ, tổ chức được các tầng lớp nhân dân, phát động được lực lượng to lớn của công nông, thực hiện được khối liên minh công nông vững chắc, trên cơ sở đó đã tập hợp được mọi lực lượng yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.
Đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, vấn đề giải phóng dân tộc đã được đặt ra một cách cấp bách, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và phương pháp cách mạng, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh phong trào quần chúng ở cả nông thôn và đô thị, tiến lên chớp thời cơ lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa đập tan toàn bộ bộ máy thống trị của đế quốc và tay sai, lập chính quyền cách mạng trong cả nước.
+ Quân đội Nhật trên chiến trường Châu á - Thái Bình Dương bị Hồng quân Liên Xô và lực lượng Đồng minh đánh bại. Nhật hoàng đã đầu hàng Đồng minh (14/8/1945). Quân đội Nhật ở Đông Dương hoang mang tan rã đến cực độ. Bọn tay sau thân Nhật cũng bị tê liệt hoàn toàn. Đó là hoàn cảnh khách quan vô cùng thuận lợi để nhân dân ta vùng dậy giành độc lập tự do.
b . Ý nghĩa lịch sử
Đối với dân tộc
+ Cách mạng Tháng Tám 1945 là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam, đã phá tan xiềng xích nô lệ của phát xít Nhật trong 5năm, của thực dân Pháp trong hơn 80 năm; lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế ngót chục thế kỷ ở nước ta lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở miền Đông Nam Á.
+ Sự kiện này đã đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, dân chủ cộng hoà, đưa dân ta từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, đưa Đảng ta từ một một Đảng bất hợp phát trở thành một Đảng cầm quyền trong cả nước.
+ Cách mạng tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội, ghi thêm một trang oanh liệt nữa vào truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm anh hùng bất khuất của dân tộc ta.
Đối với thế giới
+ Cách mạng tháng Tám đã chọc thủng mắt xích đầu tiên và yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, trước hết là đế quốc Pháp. Thắng lợi này đã đưa nước ta vào hàng ngũ các nước dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội trên thế giới.
+ Đó cũng là thắng lợi đầu tiên của một nước thuộc địa đất không rộng, người không đông, đã đứng lên tự giải phóng khỏi ách áp bức của bọn đế quốc thực dân.
+ Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộcủa nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới; đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy cách mạng Lào và Căm Pu chia phát triển.
Câu 2. (4,0 điểm )
Nội dung Hiệp định pari:
- Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toan vẹn lãnh thổ Việt Nam
- Hai bên ngừng bắn ở miền Nam, Hoa Kỳ cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống phá miền
Bắc
- Hoa Kỳ rút hết quân đội của mình và đồng minh, phá hết các căn cứ quân sự , cam kết không dính líu
hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam
- Nhân dân miến Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tuyển cử tự do
- Các bên thừa nhận thự tế ở miến nam có 2 quân đội, 2 chính quyền, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lựơng
chính trị
- Hai bên trao trả tù binh và dân thường bị bắt
- Hoa kỳ cam kết góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt nam và Đông Dương
Hiệp định Paris tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.
- Buộc Mỹ và các nước phải công nhận chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Mỹ phải rút hết quân và cam kết chấm dứt mọi sự dính líu quân sự vào miền Nam Việt Nam.
- Lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam của ta vẫn được duy trì, bảo đảm điều kiện cho cách mạng ở miền Nam Việt Nam vững bước tiến lên.
- So sánh lực lượng của ta và địch trên chiến trường đã thay đổi căn bản, hoàn toàn có lợi cho ta. Đây là điều kiện quan trọng cho công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam hơn hai năm sau.
- Đặc biệt, thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra cục diện mới ở Đông Nam Châu Á; quân đội Mỹ rút khỏi khu vực; khối SEATO giải tán; xu thế hòa bình, trung lập trong khu vực phát triển.
II. PHẦN RIÊNG PHẦN TỰ CHỌN ( 3,0 điểm )
Câu 3a. (2,0 điểm)
a.Về kinh tế.
-Sau chiến tranh thế giới thứ hai nền kinh tế Mỹ phát triển mạnh mẽ.
+ Công nghiệp: nửa sau những năm 40, sản lượng chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp toàn thế giới(năm 1948 là hơn 56%)
+ Nông nghiệp: năm 1949, sản lượng bằng hai lần sản lượng của các nước Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại.
+ Nắm hơn 50% số tàu bè đi lại trên mặt biển.
+ 3/4 dự trữ vàng của thế giới.
+ Chiếm gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới.
- Khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mỹ trở thành trung tâm kinh tế-tài chính lớn nhất thế giới.
Nguyên nhân phát triển:
- Lãnh thổ Mỹ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, trình độ kỹ thuật cao, năng động, sáng tạo.
- Mỹ lợi dụng chiến tranh để làm giàu, thu lợi nhuận từ buôn bán vũ khí và phương tiện chiến tranh.
- Mỹ đã áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản xuất.
-Các tổ hợp công nghiệp-quân sự, các công ty, tập đoàn tư bản lũng đoạn Mỹ có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và có hiệu quả ở cả trong và ngoài nước.
-Các chính sách và biện pháp điều tiết của nhà nước đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế Mỹ phát triển.
b. Về khoa học-kỹ thuật.
-Mỹ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại và đã đạt được nhiều thành tựu lớn.
-Mỹ là một trong những nước đi đầu trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuất mới, vật liệu mới, năng lượng mới, chinh phục vũ trụ, cuộc "Cách mạng xanh " trong nông nghiệp.
Tác dụng của KH-KT:
- Đưa nước Mỹ nhanh chóng vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế
- Thay đổi cơ cấu kinh tế của Mỹ
- Nâng cao kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân mỹ
Câu 3b. (2,0 điểm)
Nội dung các chiến lượt phát triển kinh tế của nhóm năm nước sáng lập ASEAN sau khi rành được độc lập đến năm 2000.
+ Thời kì đầu sau khi giành được độc lập: Thực hiện chiến lược kinh tế hướng nội với nội dung đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa thay thế hàng nhập khẩu, lấy thị trường trong nước làm chỗ dựa để phát triển sản xuất.
+ Từ những năm 60-70 trở đi chuyển sang chiến lược kinh tế hướng ngoại, bộ mặt kinh tế - xã hội có sự biến đổi to lớn: tỉ trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân cao hơn nông nghiệp, mậu dịch đối ngoại tăng nhanh. Năm 1980, tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm đạt tới 130 tỉ USD. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm nước này khá cao , tiêu biểu là Xingapo 12% (1966/73) trở thành con rồng nổi trổi nhất trong bốn con rồng kinh tế của châu Á.
-Năm 1997/98 các nước ASEAN khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, nhưng dần phục hồi và phát triển.
Từ những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, các nước này có sự chuyển hướng trong chiến lược phát triển kinh tế vì:
- Chiến lược kinh tế hướng nội bộc lộ nhiều hạn chế cần phải thay đổi để khắc phục những hạn chế đó
- Để phú hợp với xu thế chung của kinh tế thế giới.
ĐÁP ÁN ĐỊA LÝ - 2012
+ Dài thật đấy... Thế này có phao cũng chưa chắc đã chép hết :)
--------------------------------------
I. PHẦN CHUNG CHO TÂT CẢ THÍ SINH ( 8,0 điểm )
Câu 1. ( 3,0 điểm )
1. Trình bày đặc điểm khí hậu và đất của đai nhiệt đới gió mùa nước ta. Tại sao độ cao của đai
nhiệt đới gió mùa ở miền Bắc thấp hơn ở Miền Nam?
+ Đặc điểm khí hậu
- Tính chất nhiệt đới ẩm:
- Tổng bức xạ lớn, cân bằng bức xạ luôn luôn dương
- Nhiệt độ trung bình năm cao: > 20oC, tổng giờ nắng: 1400 – 3000 giờ/n
- Lượng mưa trung bình năm lớn: 1500 – 2000mm
- Độ ẩm tương đối cao (trên 80%), cân bằng ẩm luôn dương
- Tính chất gió mùa
+ Gió mùa mùa đông:
- Gió mùa ĐB:
- Nguồn gốc là khối KK lạnh xuất phát từ cao áp Xibia vào nước ta hoạt động từ
tháng 11 - 4
- Hoạt động chủ yếu ở miền Bắc, gió mùa ĐB càng xuống phía nam càng yếu và kết
thúc ở dãy
- Bạch Mã. Tạo nên mùa đông lạnh ở miền Bắc, đầu mùa lạnh khô, cuối mùa lạnh
ẩm.
- Gió tín phong ở phía nam: Nguồn gốc từ trung tâm cao áp trên Thái bình dương
thổi về xích đạo,
- hướng ĐB. Phạm vị hoạt động từ Đà nẵng trở vào Nam.
+ Gió mùa mùa hè:
- Đầu mùa luồng gió từ Bắc ÂĐD thổi vào: hướng TN gặp dãy Trường Sơn và dãy
núi biên
- giới Việt – Lào gây mưa lớn ở Tây Nguyên và Nam Bộ, tạo nên hiệu ứng phơn khô
nóng ở
- phía đông. Gió phơn khô nóng tác động mạnh nhất ở Bắc Trung Bộ và Tây Bắc
- Giữa và cuối mùa hạ luồng gió từ cao áp chí tuyến Nam BC thổi lên theo hướng
TN, gió
- này nóng, ẩm gây mưa nhiều trong cả nước.
+ Đặc điểm đất đai
Đất ở nước ta rất đa dạng, thể hiện rõ tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm của thiên nhiên
Việt Nam.
Có 3 nhóm đất chính:
Nhóm đất feralit ở miền đồi núi thấp, chiếm 65%, nghèo mùn, nhiếu sét.
feralit màu đỏ vàng chứa nhiều Fe, Al -> bị đá ong hoá -> ko có giá trị về KT.
feralit hình thành trên đá badan, đá vôi: màu đỏ thẫm, đỏ vàng -> có giá trị trồng cây
CN.
Đất mùn núi cao, chiếm 11% diện tích đất, chứa nhiều mùn.
Đất phù sa chiếm 24% diện tích đất tự nhiên.
+ Độ cao của đai nhiệt đới gió mùa ở miền Bắc thấp hơn miền Nam là do:
- Sự khác biệt về vĩ độ và sự khác biệt địa hình, địa hình phía Nam thấp hơn và bằng
phẳng hơn so với địa hình phía bắc, ảnh hưởng của các dãy núi hướng Tây Bắc –
Đông Nam; ảnh hưởng của biển Đông.
- Phía Bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên ít nhiều mang tính khí hậu lục
địa.
- Ảnh hưởng của gió mùa lên 2 miền Nam Bắc khác nhau
2. Sự phân bố dân cư chưa hợp lý ở nước ta biểu hiện như thế nào? Sự phân bố dân cư như
vậy gây ra khó khăn gì?
Dân cư nước ta phân bố chưa hợp lí giữa đồng bằng với trung du, miền núi:
Ở đồng bằng tập trung khoảng 75% dân số cả nước, trong lúc diện tích hẹp, tài
nguyên đang tiến dần tới giới hạn. Cụ thể: Đồng bằng sông Hồng mật độ dân số là 1225
người/km2 , đồng bằng sông Cửu Long là 429 người/km2.
Trong khi đó, ở vùng trung du và miền núi với diện tích rộng lớn, tài nguyên phong
phú, thiếu nhân lực để khai thác, nhưng dân số chỉ chiếm 25% dân số cả nước, mật độ dân
số thấp hơn nhiều so với cùng đồng bằng : Tây Bắc mật độ dân số là 69 người/km2. Tây
Nguyên mật độ dân số là 89 người/km2.
- Dân cư nước ta phân bố chưa hợp lí giữa nông thôn và thành thị: Dân cư nông thôn
chiếm tỉ lệ quá lớn, chiếm đến 73,1% (năm 2006), dân thành thị chỉ chiếm 26,9% (năm
2006). Như thế chứng tỏ quá trình đô thị hoá còn chậm.
Hậu quả:
- Đối với các vùng đồng bằng và đô thị: Dân cư tập trung quá đông đâ gây sức ép lớn đối
với việc giải quyết việc làm cho một lực lượng lao động đông đảo, ô nhiễm môi trường
gai tăng, tài nguyên ngày càng cạn kiệt, việc giải quyết các nhu cầu phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, nhà ở, ….gặp nhiều khó khăn.
- Đối với các vùng trung du, miền núi, các vùng nông thôn : Tài nguyên thiên nhiên phong
phú, đất rộng, …nhưng dân cư tập trung ít dẫn đến thiếu nhân lực để khai thác.
Như vậy việc phân bố dân cư chưa hợp lí không những đã dẫn đến việc khai thác tài
nguyên và sử dụng lao động giữa các vùng miền chưa hợp lí mà còn góp phần tăng sự
chênh lệch về kinh tế - xã hội giữa các vùng miền .
Câu 2. (2,0 điểm )
1.
* Tình hình phát triển
+ Ngành du lịch nước ta ra đời năm 1960 khi Cty du Việt Nam thành lập 7-1960. Tuy nhiên địa
lí nước ta mới phát triển mạnh từ 1990 đến nay nhờ có chính sách Đổi mới
Năm 1991 2005
Khách nội địa (triệu lượt khách) 1,5 16,0
Khách quốc tế (triệu lượt
khách) 0,3 3,5
Doanh thu từ du lịch (nghìn tỷ
đồng) 0,8 30,3
* Các trung tâm du lịch lớn nhất của nước ta:
+ Cả nước hình thành 3 vùng du lịch: Bắc Bộ (29 tỉnh-thành), Bắc Trung Bộ (6 tỉnh), Nam
Trung Bộ và Nam Bộ (29 tỉnh - thành).
Tập trung ở 2 tam giác tăng trưởng du lịch: HN-HP-QN, tp.HCM-Nha Trang-Đà Lạt.
+ Các trung tâm du lịch: Hà Nội, TPHCM, Huế, Đà Nẵng, Hạ Long, Đà Lạt, Cần Thơ, Vũng
Tàu, Nha Trang…
2.
Nghề đánh bắt hải sản phát triển, làm ăn có hiệu quả, trước hết là trực tiếp phát triển kinh tế
biển; đồng thời, qua đó tạo cơ sở quan trọng nâng cao sức mạnh và tiềm lực quốc phòng, xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân (QPTD) trên biển.
Đẩy mạnh việc đánh bắt hải sản xa bờ giúp nâng cao sản lượng và chất lượng hải sản của nước
ta, cung cấp nguồn nguyên liệu chất lượng cho ngành xuất khẩu hải sản, đồng thời cải thiện đời sống và tăng nguồn vốn cho ngư dân. Ngoiaf ra, nó còn có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng
thế trận QPTD trên biển. Sự có mặt thường xuyên, đông đảo của các đội tàu, của ngư dân trên
các vùng biển xa, không chỉ nhằm khai thác tốt tiềm năng, lợi thế nguồn tài nguyên biển, mà
còn góp phần quan trọng vào việc khẳng định chủ quyền và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an
ninh quốc gia trên biển. Sự phát triển lớn mạnh của các đội tàu thuyền đánh bắt hải sản xa bờ sẽ
là điều kiện thuận lợi để chúng ta nghiên cứu, xây dựng lực lượng dân quân biển, cả về tổ chức,
số lượng và chất lượng.
Câu 3. (3,0 điểm )
1. Phân tích khả năng và hiện trạng phát trieenc hăn nuội gia súc của Trung du và miền núi Bắc
Bộ.
Lợi thế,
Trung du và miền núi Bắc Bộ có nhiều đồng cỏ, chủ yếu trên các cao nguyên có độ cao 600
– 700 m. Các đồng cỏ tuy không lớn, nhưng ở đây có thể phát triển chân nuôi trâu, bò (lấy
thịt và lấy sữa), ngựa, dê.
Bò sữa được nuôi tập trung ở cao nguyên Mộc Châu (Sơn La).
Trâu, bò thịt được nuôi rộng rãi, nhất là trâu. Trâu khỏe hơn, ưa ẩm, chịu rét giỏi hơn bò, dễ
thích nghi với điều kiện chăn thả trong rừng. Đàn trâu có 1,7 triệu con, chiếm hơn ½ đàn trâu
cả nước. Đàn bò có 900 nghìn con, bằng 16% đàn bò cả nước (năm 2005)
Hiện nay,
những khó khăn trong công tác vận chuyển các sản phẩm chăn nuôi tới vùng tiêu thụ (đồng
bằng và đô thị) đã hạn chế việc phát triển chăn nuôi gia súc lớn của vùng.
Các đồng cỏ cũng cần được cải tạo, nâng cao năng suất.
Do giải quyết tốt hơn lương thực ở người, nên hoa màu lương thực dành nhiều hơn cho chăn
nuôi đã giúp tăng nhanh đàn lợn trong vùng ; tổng đàn lợn có hơn 5,8 triệu con, chiếm 21%
đàn lợn cả nước (năm 2005)
2. Vẽ biểu đồ
Nhận xét : Qua biểu đồ trên ta thấy giá trị sản xuất công nghiệp của Đông Nam Bộ qua các
năm có sự tăng trường nhanh và hơn rất nhiều so với sự phát triển giá trị sản xuất công nghiệp
của Đồng bằng sông Cửu Long.
II. PHẦN RIÊNG PHẦN TỰ CHỌN ( 2,0 điểm )
Câu 4a. (2,0 điểm)
1. Tên các nhà máy điện có công suất trên 1.000 MW (0,5 đ):
-Nhiệt điện: Phả Lại, Phú Mỹ
-Thủy điện: Hòa Bình
2. Nhận xét sự phân bố các nhà máy nhiệt điện Phả Lại, Phú Mỹ
0
50
100
150
200
250
300
Đông Nam Bộ Đông bằng sông Cửu Long
Năm 2000
Năm 2004
Năm 2007
GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP CỦA ĐÔNG NAM BỘ
VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG QUA CÁC NĂM
Nhà máy nhiệt điện Phả Lại: mang đặc tính của các nhà máy nhiệt điện miền Bắc phân bố
ở mỏ than ( mỏ than Quảng Ninh ). Nhà máy nhiệt điện
Phú Mỹ : mang đặc tính của các nhà máy nhiệt điện ở miền Nam thường phân bố gần mỏ
dầu, khí ở thềm lục địa.
Câu 4b. (2,0 điểm)
1. Tên các trung tâm công nghiệp có cảng biển ở duyên hải Nam trung bộ
Đà Nẵng, Cam Ranh, Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội, Nam Phú Yên, Vân Phong
2. Ý nghĩa của hệ thống cảng biển ở duyên hải Nam trung bộ
Cảng Đà Nẵng có vai trò là cửa ngõ chính cho giao thương hàng hóa các tỉnh miền
Trung và Tây Nguyên, được xác định là điểm cuối và là cửa ngõ chính ra Biển Đông cho
hàng hóa quá cảnh giữa các nước trên tuyến.
Cảng Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi) là một cảng biển tổng hợp quốc gia, đầu mối
khu vực (cảng loại I) của Việt Nam, gồm có một khu bến cảng chính ở vịnh Dung Quất.
Trong vùng đang đầu tư xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong với tổng diện tích
750ha (gấp hơn 1,5 lần cảng công-ten-nơ Xin-ga-po hiện nay) với tổng chiều dài bến gần
12,6km, bao gồm 42 bến cảng, bảo đảm khả năng hơn 200 triệu tấn hàng hóa thông quan
mỗi năm và tiếp nhận tàu công-ten-nơ có trọng tải đến 17.000TEU.
- Khi hoàn thành cảng Vân Phong sẽ là điểm nhấn đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế biển của Việt Nam.
- Vùng duyên hải Nam Trung Bộ có những đội tàu thuyền khai thác hải sản hùng hậu, mỗi năm ngư dân khai thác được hơn 600.000 tấn hải sản các loại, trong đó có nhiều hải sản mang lại giá trị kinh tế cao như: Cá ngừ đại dương, hải sâm, mực, tôm hùm, cua biển… Ngoài ra, với lợi thế có hệ thống đầm phá trải dài ở các tỉnh cũng như vùng bãi triều cửa sông, nghề nuôi trồng hải sản ở đây tương đối phát triển với sản lượng mỗi năm lên tới 130.000 tấn hải sản các loại.
- Ngoài ra khu vực cảng biển còn là nơi thu hut một lượng lớn khách du lịch thăm quan biển đảo và các hoạt động văn hoá, nghỉ dưỡng biển. Năm Du lịch quốc gia duyên hải Nam Trung Bộ - Phú Yên 2011 chủ đề "Du lịch biển, đảo" với hơn 30 sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch có quy mô lớn diễn ra liên tục trong năm 2011 tại các tỉnh, thành phố trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Sản phẩm du lịch biển, đảo gắn với phát huy giá trị di sản văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng thông qua việc tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch.
ĐÁP ÁN HÓA HỌC - 2012
+ Dưới đây là đáp án tham khảo môn Hóa Học kỳ thi tốt nghiệp THPH năm 2012. Sẽ cập nhật đáp án các môn còn lại sớm nhất có thể cho các bạn.
+ MÃ ĐỀ 394:
1A-2A-3D-4B-5A-6D-7D-8A-9D-10A
11B-12B-13A-14B-15D-16A-17D-18B-19B-20D
21C-22C-23B-24A-25C-26A-27A-28A-29C-30B
31C-32B-33C-34C-35A-36C-37C-38C-39D-40D
41C-42D-43D-44B-45C-46B-47B-48A
+ MÃ ĐỀ 415:
1D-2A-3A-4D-5D-6A-7C-8B-9C-10A
11B-12D-13B-14B-15C-16A-17D-18C-19A-20D
21D-22D-23C-24D-25C-26A-27B-28B-29C-30C
31A-32D-33B-34B-35B-36B-37C-38D-39C-40D
41A-42B-43C-44C-45A-46A-47D-48B
+ MÃ ĐỀ 526:
1D-2D-3B-4A-5A-6C-7B-8A-9A-10C
11D-12A-13D-14D-15A-16A-17C-18B-19A-20D
21B-22B-23D-24C-25B-26C-27C-28C-29B-30B
31A-32D-33B-34C-35C-36B-37D-38B-39A-40D
41A-42D-43C-44A-45B-46C-47D-48B
+ MÃ ĐỀ 637:
1D-2A-3D-4A-5C-6C-7C-8B-9A-10C
11B-12A-13D-14B-15A-16B-17A-18D-19D-20A
21C-22C-23D-24B-25A-26D-27D-28A-29B-30D
31B-32C-33B-34A-35B-36B-37A-38C-39C-40C
41D-42B-43C-44B-45D-46C-47D-48A
+ MÃ ĐỀ 748:
1C-2A-3C-4D-5D-6B-7C-8D-9A-10A
11B-12C-13A-14B-15A-16A-17B-18B-19D-20C
21D-22C-23B-24B-25A-26A-27C-28D-29A-30C
31B-32D-33C-34A-35D-36B-37A-38D-39C-40B
41B-42A-43C-44D-45D-46B-47D-48B
+ MÃ ĐỀ 859:
1B-2B-3D-4C-5A-6A-7D-8A-9C-10D
11C-12C-13A-14B-15B-16C-17A-18D-19C-20B
21C-22D-23D-24D-25C-26B-27C-28B-29D-30B
31C-32D-33A-34C-35C-36A-37A-38D-39A-40A
41B-42B-43D-44D-45B-46A-47A-48B
ĐÁP ÁN NGỮ VĂN - 2012
I. Phần chung
Câu 1:
1. Hai con người được nói đến là hai cha con: Xô-lô-khốp và Vania.
2. Hai con người côi cút
Khi chiến tranh bùng nổ, Xô-lô-khốp chia tay vợ con lên đường ra trận, bị thương rồi bị bắt làm tù binh, bị đày đọa 2 năm trong trại tập trung 2 phát xít. Phát xít Đức bắt cả tù binh lái xe - cơ hội để Xô- cô -lốp trốn thoát, trở về phía Hồng quân Biết tin ngôi nhà bị trúng bom phát xít, vợ và hai con gái bị giết hại. Con trai - giờ là đại úy pháo binh cũng đang tiến công vào Berlin, nhưng đúng vào ngày chiến thắng, 9/5/1945, đứa con trai duy nhất, niềm hy vọng cuối cùng của anh đã bị một tên thiện xạ Đức bắn chết. Bản thân anh lại đã hai lần bị thương ,bị đày đoạ trong trại tập trung của phát xít,bây giờ lại còn bị bệnh tim hành hạ.
Gặp bé Vania "đầu tóc rối bù", "rách bươm xơ mướp", sống bơ vơ nơi hiệu giải khát, bạ đâu ngủ đó... ai cho gì thì ăn mấy", nhất là khi nhìn thấy cặp mắt của em "như những ngôi sao sáng ngời”.Khi nghe tin bố mẹ nó đều chết trong chiến tranh,những giọt nước mắt nóng hổi sôi lên trong mắt Xôcôlốp và lập tức anh quyết định sẽ nhận chú bé làm con. Anh đã cứu bé Vania, và anh đã tự cứu mình! Câu nói khẽ của Xôcôlốp: "Là bố của con" khi nghe bé Vania nghẹn ngào hỏi: "Thế chú là ai?" tưởng là bình dị nhưng đầy nước mắt, chứa đựng cả một biển tình thương mênh mông! Hai linh hồn đau khổ tựa vào nhau làm cho nỗi mất mát, đau thương sau chiến tranh được dịu lại.
3. Hình ảnh hai hạt cát:
Khi tình cờ nhìn thấy bé Vania và anh bắt đầu thấy thích nó.Xô cô lốp nhận Vania làm con, sống hạnh phúc bên nhau. Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ ...
Nhà văn không có ý hạ thấp, coi thường con người cá nhân mà mà kín đáo nhắc nhở, kêu gọi sự quan tâm của toàn xã hội đối với cá nhân con người. Sôlôkhốp không chỉ miêu tả cá nhân góp phần tạo nên lịch sử, mà co nhấn mạnh trách nhiệm của lịch sử trước mỗi cá nhân, đồng thời góp tiêng nói lên án “bão tố chiến tranh” phi nghĩa, và sức mạnh phũ phàng của nó. Đó là thái đô “Nói với bạn đọc một cách trung thực, nói cho mọi người biết sự thật, đôi khi là khắc nghiệt nhưng bao giờ cũng táo bạo, củng cố trong lòng người niềm tin ở tương lai, tin ở sức mạnh của mình có khả năng xây dựng tương lai đó”.
Câu 2:
Nguyên nhân quan trọng nhất để xảy ra hiện tượng nói dối đó là nhận thức non yếu, hay là sự thiếu hiểu biết của người nghe “sự lầm lẫn bổ sung cho sự ngu dốt một ảo ảnh về sự hiểu biết” và người nói đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết này để hình thành một cách thức giao tiếp khác: cố tình nói điều không đúng. Do vậy nói dối có thể xảy ra khi người nói đã nhận thức đúng vấn đề, nhưng cố tình đưa ra thông tin sai thực tế ngay từ đầu. Hoặc có thể mới đầu người nói chưa nhận thức được, tin là sự thực, song người nghe không phát hiện ra và người nói sau khi kiểm chứng biết là sai vẫn không điều chỉnh lại. Sự nói dối bắt đầu từ lúc biết là nói sai mà không điều chỉnh lại ấy. Đạo đức truyền thống thường xem việc cố tình nói điều không đúng là không chấp nhận được. Với những nhà luân lý học thì sự dối trá phải được lên án một cách tuyệt đối và triệt để. Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống thì lại hoàn toàn không vậy. Con người sống trong xã hội với những mối quan hệ đan xen và phụ thuộc lẫn nhau thì sự thật đôi khi không đáp ứng được yêu cầu cuộc sống. Trên thực tế, chúng ta vẫn gặp những câu trách móc kiểu “Cậu này thật thà quá”, hoặc những yêu cầu kiểu “Cậu nhớ nói khéo khéo nhé!”, thậm chí những lời tâm sự “mình phát hiện ra rằng với bố mẹ chồng thì không cần có sự thành thật, cũng ko cần sự đơn giản vì bố mẹ chồng mình thích những lời nói "điêu" chỉ để nghe cho sướng tai mà thôi”. “Đơn giản là vì sự thật không như mong đợi nên người ta mới vỗ về và nịnh bợ nhận thức của bản thân và người xung quanh”. Đây là một nhận xét xác đáng. Chính cái nghịch lý trong sự dối trá lại là cái có thể thay thế cho cái chân lý khi cả hai đều nhằm cùng mục đích cũng như kết quả như nhau, thiết lập sự tin tưởng giữa những con người trong một sự hài hoà chung Chính vì nguyên nhân này mà “Talleyrand cho rằng sự dối trá là vấn đề thuộc bình diện tiện lợi hơn là vấn đề đạo đức chân chính”. Nói dối là một hoạt động nhằm đáp ứng những nhu cầu có thực của đời sống con người. Nó không những tồn tại mà còn ngày càng phát triển đa dạng, phong phú về cả thể loại cũng như cách thức.
II. Phần riêng
Câu 3a.
Tháng 10 năm 1954, sau thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trung ương Đảng và chính phủ rời Việt Bắc để trở về Hà Nội tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng . Trước sự kiện đó Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc . Đây là bài thơ ân tình cách mạng, gọi lại những kỉ niệm thân thiết và vẻ đẹp của Việt Bắc từ ngày đầu gian khổ chắt chiu xây dựng căn cứ địa cách mạng cho đến khi kháng chiến thắng lợi . Bài thơ kết cấu theo lối hát giao duyên đối đáp nam nữ nhưng lại thể hiện những ân tình cách mạng , và vì thế bài thơ như một chất men say ngấm sâu vào lòng người , trở nên gần gũi , đằm thắm hơn với những cung bậc lan toả của nó .
Bài thơ là những hồi tưởng của tác giả về những ngày khó khăn gian khổ nhưng chứa đầy tình người nồng ấm, là nhưng nỗi nhớ của tác giả, là những kỷ niệm với những con người, với cảnh vật nơi đây. Và đoạn thơ: “Ta đi ta nhớ những ngày …. Chày đêm nên cối đều đều suối xa” như khắc hoạ rõ hơn về tình cảm của tác giả
Dù là một nơi nhỏ trong chốn núi rừng Việt Bắc bao la, nhưng dường như trong ký ức của tác giả nó cũng trở nên quan trọng, không bao giờ có thể quên.Một sự khẳng định chắc chắn…không bao giờ có thể quên:
“Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”
Dù bản thân có đi xa, dù có ở nơi chốn nào thì vẫn sẽ luôn nhớ về “mình”. Ngôn từ xưng hô thật giản dị mà thân thương. “Mình” cùng “ta” nào có thể quên được những “đắng cay ngọt bùi” đã trải qua. Hình ảnh ẩn dụ “đắng cay” chính là những khó nhọc, gian nan mà nhân dân cùng cán bộ đã phải trải qua trong suốt thời kỳ kháng chiến, còn niềm vui chiến thắng không gì khác chính là “ngọt bùi”. Từng nỗi nhớ như tràn ngập trong tâm hồn Tố Hữu biểu hiện cho một tình cảm sâu nặng tựa như nỗi tương tư đến “người thương”. Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại càng khắc sâu hơn sự nhớ nhung ngghìn trùng tha thiết của tác giả đối với Việt Bắc.
Nhớ những ngày cùng nhau chia sẻ khó khăn gian khổ
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Tuy thiếu thốn, gian khổ nhưng cảnh và người Việt Bắc đẹp và tình nghĩa chan hòa:
Hình ảnh tượng trưng: "Chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa "chia, sẻ, cùng" diễn tả được mối tình cảm "chia ngọt sẻ bùi" giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng. Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong "củ sắn", "bát cơm", "chăn sui"... mà người cán bộ cách mạng đã chịu ơn Việt Bắc. Đây là một hình ảnh đậm đà tình giai cấp.
Nhớ tình cảm của những người mẹ Việt Bắc:
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng.
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô
Hình ảnh chọn lọc: Người mẹ nắng cháy lưng... gợi người đọc liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao động của bà mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc, cưu mang chiến sĩ, cán bộ cách mạng. Đó là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi .
Nhớ cảnh sinh hoạt cơ quan và những âm thanh quen thuộc:
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa...
Đoạn thơ còn dựng lại những khung cảnh quen thuộc với những hình ảnh và âm thanh hết sức tiêu biểu cho sinh hoạt trong kháng chiến Việt Bắc. Câu thơ đối ý mà nêu bật tinh thần lạc quan yêu đời của cán bộ, chiến sĩ cách mạng dù cuộc sống còn rất gian khổ, khó khăn :
"Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo"
Âm thanh "tiếng mõ rừng chiều" và "chày đêm nện cối đều đều suối xa" là âm thanh đặc trưng của Việt Bắc, phản ánh sinh hoạt yên ả, bình dị nơi núi rừng, gợi nhớ một thời đã qua.
Cả đoạn thơ mang đậm màu sắc dân tộc, thể hiện rõ hồn thơ của TH. Điệp từ “nhớ” cùng lối so sánh đặc biệt để bộc lộ một cảm xúc thương nhớ dạt dào.Cách gieo vần, sử dụng tài tình thể thơ lục bát đã làm cho đoạn thơ mang âm điệu ngọt ngào, êm ái. Việc liệt kê một loạt những hình ảh cùng địa danh của Việt Bắc đã khắc họa thật sâu nỗi niềm thương nhớ của một người chiến sĩ – thi sĩ đối với quê hương thứ hai của mình.
Đoạn thơ trên chính là bản tình ca về lòng chung thủy sắt son, chính là tiếng lòng của nhà thơ, hay cũng chính là của những người VN trong kháng chiến. Với những câu thơ dạt dào cảm xúc, TH đã thể hiện thành công tình cảm của người cán bộ dành cho thiên nhiên, nhân dân Việt Bắc không chỉ là tìh cảm công dân xã hội mà còn là sự sâu nặng như tình yêu lứa đôi. Nhờ vậy Việt Bắc đã trở thành tp tiêu biểu cho van học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Bằng những vần thơ đậm chất dân tộc, nỗi nhớ cùng tình cảm chugn thủy sắt son giữa người CB với nhân dân, thiên nhiên VIệT BắC cùng cuộc kháng chiến được khắc họa rõ nét. Thật hiển nhiên, TH xứng đáng trở thành ngọn cờ đầu của thơ ca CMVN
Câu 3b.
Hầu hết các nhà thơ nhà văn đều có tác phẩm liên quan đến đề tài dòng sông nhưng có lẽ con sông Đà uốn lượn trong trang văn của Nguyễn Tuân là có dáng vẻ độc đáo nhất. Trước hết đó là dòng sông có “nhiều vực xoáy nhiều luồng nhiều đá ghềnh nhiều sóng thác” mà Nguyễn Tuân gọi là con sông hung bạo.
Bờ sông có những đoạn rất hiểm trở mà Nguyễn Tuân gọi là “bờ sông dựng vách thành vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu”. Hơn thế nữa “mặt sông chõi đúng ngọ mới thấy mặt trời ngồi trong khoan đò đi qua quãng ấy vào mùa hè cũng cảm thấy lạnh”. Mặt sông đà “cả một chân trời đá nó bày thạch trận trên sông đám tản đám hòn chia làm ba hàng chặn ngay trên sông đòi ăn chết cái thuyền”.
Có những đoạn mặt ghềnh “nước xô đá đá xô sóng sóng xô gió cuồn cuộn những luồng ghùm ghè suốt năm”. Lại có những đoạn sông nước xoáy “có những cái hút nước như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”.
Sông Đà không chỉ dữ dội về hình khối mà còn dữ dội về âm thanh “tiếng thác nước nghe như oán trách rồi lại như van xin rồi rống lên như ngàn con trâu mộng”. Ở những đoạn nước xoáy “nước ở đây thở và kêu như cái cống bị sặt”.
Với cách miêu tả mang cảm giác mạnh nhà văn Nguyễn Tuân đã dựng nên một nét tính trội của sông Đà đó là rất dữ dội hung bạo nhưng đồng thời nó cũng rất sống động như một sinh thể sống. Vì thế tác giả gọi con sông Đà chứ không phải là dòng sông.
Nguyễn Tuân khi phản ánh sự vật sự việc bao giờ cũng tìm cách đẩy sự vật sự việc đến độ tột cùng tột đỉnh. Vì thế sông Đà trong con mắt của Nguyễn Tuân hung bạo bao nhiêu thì cũng rất trữ tình bấy nhiêu.
Trước hết sông Đà hiện lên rất giàu chất thơ đẹp đến mê hồn người “sông Đà tuôn chảy như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa bang hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo đất nương xuân”.
Sông Đà không chỉ đẹp ở hình dáng mà còn đẹp ở sự thay đổi sắc màu ấn tượng “mùa xuân dòng xanh ngọc bích”, “mùa thu nước từ từ chín đỏ”.
Bờ sông không phải lúc nào cũng dựng vách thành mà nhiều quãng sông “bờ sông hoang dại như thời tiền sử, bờ sông hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích”, “cảnh ven sông ở đây lặng lẽ như tờ, hình như đời Lí đời Trần đời Lê quãng sông này cũng lặng tờ thế thôi”.
Trên bãi sông sự sống dâng tràn “cỏ gianh đầu núi đang ra nõn búp”, “nương ngô nhú mấy lá ngô non đầu mùa”, “một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương”.
Sông Đà không chỉ có vẻ đẹp trữ tình của hình dáng của màu sắc mà còn có vẻ đẹp trữ tình của sức sống êm đềm sinh sôi. Đối với Nguyễn Tuân sông Đà đã trở thành một cố nhân và sông Đà càng đẹp hơn trong khúc hát xây dựng tương lai.
Để xây dựng hình tượng con sông Đà như một sinh thể có số phận nhà văn đã huy động tổng hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật. Đó là nghệ thuật tả thực và lãng mạn, đó là sự phối hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật của hội họa, của điện ảnh. Đặc biệt là nghệ thuật sử dụng ngôn từ một cách đa dạng sáng tạo, nhờ thế vẻ đẹp của dòng sông đặc tính của dòng sông được hiện lên rất đa diện. Xây dựng hình tượng con sông Đà nhà văn vừa để chứng mình tài nghệ của người lái đò sông Đà vừa để chứng minh sông Đà là một con sông đặc biệt vừa hung bạo vừa trừ tình nhưng cũng vừa đầy triển vọng trong khúc hát xây dựng tương lai.